Phân tích chi phí – lợi ích của việc cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cho các nhóm dân số dễ bị tổn thương tại tỉnh Lâm Đồng và Quảng Bình.

Tài nguyên 25 tháng 8 năm 2025 Đọc 8 phút


Chương trình Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) đã đạt được nhiều thành công trong việc kiểm soát tốc độ gia tăng dân số tại Việt Nam. Việc dân số được ổn định đã góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế quốc giacải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam trong những năm qua. Tuy nhiên, những kết quả này vẫn chưa được lượng hóa cụ thể.

Nghiên cứu này nhằm ước tính lợi ích xã hội ròng (NSB) của việc cung cấp dịch vụ KHHGĐ (hoặc dịch vụ tránh thai) cho các nhóm dân số dễ bị tổn thương. Các phát hiện từ nghiên cứu sẽ được sử dụng làm bằng chứng vận động chính sách, nhằm cải thiện việc sử dụng và khả năng tiếp cận dịch vụ KHHGĐ công thông qua việc đưa dịch vụ KHHGĐ vào gói chi trả của bảo hiểm y tế.

Điều này đặc biệt cần thiết trong bối cảnh nguồn tài chính hỗ trợ cho chương trình KHHGĐ từ chính phủ và các nhà tài trợ quốc tế đang giảm dần. Việc hạn chế cung cấp dịch vụ KHHGĐ miễn phí có thể ảnh hưởng đến tính bền vững của chương trình, đặc biệt tại những khu vực khó khăn của đất nước như các địa bàn nghiên cứu: huyện Đam Rông (Lâm Đồng) và huyện Minh Hóa (Quảng Bình).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích chi phí – lợi ích, trong đó giả định chi phí cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) thông qua hệ thống bảo hiểm y tế được so sánh với các khoản chi phí có thể phát sinh do mang thai ngoài ý muốn nếu không có chương trình.

Nghiên cứu được tiến hành tại hai huyện miền núi nghèo: Minh Hóa (Quảng Bình)Đam Rông (Lâm Đồng). Chi phí cung cấp dịch vụ KHHGĐ được ước tính dưới góc độ của chính phủ. Tổng chi phí hằng năm của chương trình được tính bằng số lượng dịch vụ KHHGĐ theo từng biện pháp trong năm nhân với đơn giá. Dữ liệu về số lượng dịch vụ được thu thập từ tất cả các cơ sở y tế công lập. Đơn giá của từng biện pháp được xác định dựa trên mức phí niêm yết tại bệnh viện huyện hoặc giá thị trường năm 2013. Vì nghiên cứu giả định dịch vụ KHHGĐ nằm trong gói bảo hiểm y tế, nên 10% chi phí quản lý và dự phòng được cộng thêm, theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế Việt Nam.

Chi phí tránh được từ việc ngăn ngừa mang thai ngoài ý muốn được tính như khoản tiết kiệm chi phí cho hộ gia đình, bảo hiểm y tế và chính phủ. Việc ước tính tiết kiệm chi phí gồm hai bước:

  1. Sử dụng công cụ MSI Impact 2 để ước tính số trường hợp mang thai ngoài ý muốn được phòng tránh, đồng thời tính tác động gồm: số ca phá thai tránh được, số ca sinh sống tránh được và số DALY tránh được nhờ sử dụng dịch vụ KHHGĐ.

  2. Ước tính tổng chi phí có thể phát sinh nếu không có chương trình KHHGĐ, bao gồm: chi phí sinh đẻ, chi phí phá thai, chi phí chăm sóc sức khỏe trẻ em đến 5 tuổi và chi phí DALY của bà mẹ.

Các chi phí trực tiếp y tế và gián tiếp đều được đưa vào tính toán. Dữ liệu được thu thập qua phỏng vấn các cặp vợ chồng có con từ 0–5 tuổi, bác sĩ nhi khoa, bác sĩ sản khoa, và qua hồ sơ lưu trữ tại bệnh viện huyện. Chi phí cung cấp dịch vụ và chi phí tiết kiệm được ước tính theo năm và trong giai đoạn 5 năm (2009–2013). Mức giá dịch vụ KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe năm 2013 được dùng cho tất cả các năm, do đó nghiên cứu không tính đến yếu tố chiết khấu và lạm phát. Mọi chi phí được quy đổi ra VNĐ và USD (tỷ giá tháng 6/2013: 1 USD = 21.036 VNĐ).

Hiệu quả chi phí – lợi ích của chương trình KHHGĐ được đo lường theo ba tiêu chí:

  • Tỷ lệ lợi ích/chi phí (B/C) của chương trình KHHGĐ

  • Tỷ suất hoàn vốn (ROI) = (Lợi ích – Chi phí chương trình)/Chi phí chương trình × 100

  • Lợi ích xã hội ròng (NSB) = Chi phí tiết kiệm – Chi phí chương trình

Chương trình được coi là có lợi nếu B/C > 1, ROI > 0 hoặc NSB > 0.

Một phân tích nhạy cảm một chiều (one-way sensitivity analysis) được thực hiện nhằm kiểm tra tác động của các giả định đầu vào thay thế đối với lợi ích xã hội ròng của chương trình. Các giả định này phản ánh những thay đổi có thể xảy ra trong tương lai, bao gồm:

  • Loại bỏ hỗ trợ của chính phủ cho cơ sở y tế công sẽ làm tăng 30% viện phí hiện tại.

  • Tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em giảm 10% nhờ cải thiện tình trạng sức khỏe trẻ em tại địa bàn nghiên cứu.

  • Tỷ lệ tham gia giảm nếu dịch vụ KHHGĐ không còn được cung cấp miễn phí.

  • Tỷ lệ thất bại của chương trình tăng 10%, theo giả định thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước.

Cần lưu ý rằng chi phí y tế trong phần chi phí tiết kiệm được phản ánh các khoản chi mà chính phủ và bảo hiểm y tế sẽ phải chi trả nếu không có chương trình KHHGĐ tại hai huyện nghiên cứu.

Tìm hiểu thêm:

Cost-Benefit Analysis of providing FP for Vulnerable Populations in Lam Dong and Quang Binh Provinces